Tìm kiếm:
http://www.vnlawfind.com.vn
TRANG CHỦ
 
 



TIN VẮN:
- Từ một quyết định sáng suốt của Quốc hội, nghĩ về vai trò của nền báo chí cách mạng Việt Nam   - Vụ án Nông trường Sông Hậu: Hủy án, điều tra lại   - Quản lý xe ôm... sẽ phát sinh xe ôm “dù”   - 'Hãy chỉ cho dân biết các bạn đang làm gì để giảm tham nhũng'   - Kiến nghị lập cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính  
Việt Nam – pháp luật và sự đa dạng văn hóa
(00:33, 07/03/2010)

Nhận diện vai trò của pháp luật và văn hóa

- Trong quá trình toàn cầu hóa, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc được đặt ra như thế nào, thưa ông?

PGS. TS. PDN: Ngoài đời sống kinh tế và chính trị, đời sống văn hóa các dân tộc cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình toàn cầu hóa. Các giá trị văn hóa phương Tây tràn ngập ở Việt Nam, lối sống hưởng thụ, sự đòi hỏi giải phóng các quyền cá nhân, sự xuất hiện không thể dập tắt của chủ nghĩa tôn trọng nhân cách cá nhân đang là chủ đề lớn ở Việt Nam. Giữ lấy quốc túy, quốc hồn – mà người ta kêu gọi là giữ lấy bản sắc dân tộc – đang là một mơ ước không dễ thực hiện đối với các dân tộc yếu, thiếu cá tính và dân tộc tính.

- Ông nhận xét gì về đặc trưng tính cách của người Việt khi phải tiếp nhận những yếu tố ngoại lai?

PGS. TS. PDN: Việt Nam là một quốc gia với gần 60 tộc người, đôi khi khá khác nhau về nhân chủng, có nhiều vấn đề riêng về chính sách văn hóa, song trên hết sẽ là những chính sách hòa hợp văn hóa dân tộc, tôn trọng sự khác biệt và khuyến khích các cộng đồng người chung sống trong sự đa dạng về văn hóa. Ngoài ra, giữ gìn những gì thuần Việt trong sự hối thúc liên tục của văn hóa ngoại lai cũng sẽ là những chủ đề lớn. Khác với các quốc đảo như Nhật Bản hay Anh Quốc, người Việt Nam dường như quen với sự pha tạp văn hóa. Mặc dù có nhiều triều đại đã tìm cách giam dân tộc cách biệt với thế giới bên ngoài, song về cơ bản, cởi mở, quen với thế giới bên ngoài, dễ hòa đồng và cũng dễ có nguy cơ tan biến bản sắc có vẻ như là một đặc trưng của người Việt.

- Nói cách khác là tính dung hòa của người Việt rất cao?

PGS. TS. PDN: Chắc chắn là như thế. Các nhà nước của ta về cơ bản là khuyến khích và bảo hộ sự chung sống hòa bình và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc. So với các xứ giàu có, ở Việt nam hầu như không có chủ nghĩa bài ngoại hay phân biệt giống nòi, tôn giáo hay sự phân biệt đối xử khác biệt văn hóa trong pháp luật Việt Nam. Hầu như người Việt Nam không gặp phải những vấn đề của chủ nghĩa cực đoan, bài ngoại, phân biệt chủng tộc. Ở Việt Nam dường như chưa có xung đột nặng nề về sắc tộc hay tôn giáo. Bởi lẽ đó, pháp luật Việt Nam về những vấn đề này dường như khá mờ nhạt, ít được bàn luận trong giới luật học Việt Nam.

Đa dạng văn hóa

- Như ông nói, ta không có những xung đột về sắc tộc hay tôn giáo, phải chăng như vậy các nền văn hóa của các dân tộc không chiếm đa số cũng có cơ hội sinh tồn bình đẳng, tạo ra sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam?

PGS. TS PDN: Trên thực tế những năm qua, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chương trình khuyến khích văn hóa bản địa – thường được gọi là văn hóa các dân tộc – và đã có những kênh truyền hình, đài phát thanh, những chương trình dạy và học tiếng dân tộc, những chương trình khuyến khích duy trì ngôn ngữ, sắc phục, tập quán và dân tộc tính các tộc ít người.

Các dân tộc ít người có đại diện trong chính quyền các cấp, và dường như có tỷ lệ ấn định về chính sách cán bộ đối với các dân tộc ít người. Các chế độ đào tạo cán bộ, đào tạo nguồn, tuyển dụng nhân sự để có những chỉ tiêu khuyến khích sự tham gia của các tộc ít người trong bộ máy chính quyền và các đoàn thể xã hội làm vệ tinh cho Nhà nước.

Trong âm nhạc, văn học, hội họa, ẩm thực… sự hòa quyện chung sống giữa các tộc người ở Việt Nam dường như rất tự nhiên. Mặc dù vậy, Nhà nước khuyến khích sự chung sống này bằng cách cấp kinh phí cho các sinh hoạt và giao lưu văn hóa.

- Nhìn từ góc độ luật pháp thì sao, thưa ông?

PGS. TS PDN: Trong chính sách trấn áp tội phạm, chính sách hình sự của Việt Nam có đề cập tới tôi danh chống phá khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Mọi hành vi tuyên truyền và chống đối chính sách này, tùy mức độ nguy hại, đều có thể được xử lý bởi các chế tài theo luật vi cảnh hoặc luật hình sự.

Tuy nhiên, không phải không có vấn đề cần quan tâm. Trong tương lai, khi các nguồn tài nguyên trở nên cạn kiệt, khi cơ sở kinh tế của các tộc người, có thể bị ảnh hưởng khác nhau bởi những chính sách kinh tế, có thể những mâu thuẫn sắc tộc có nguy cơ ngấm ngầm xuất hiện. Tuy nhiên, điều này dường như chưa được nghiên cứu và dự báo đầy đủ ở Việt Nam.

Sự du nhập văn hóa ngoại lai

- Chúng ta cần làm gì để bảo vệ bản sắc dân tộc trước các làn sóng văn hóa của nước ngoài du nhập?

PGS. TS PDN: Dường như Nhà nước chưa có chính sách thỏa đáng nào nhằm đối phó với sức cuốn hút của văn hóa ngoại lai. Điển hình là số lượng phim ảnh của truyền hình nhà nước chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Hoa. Người ta bảo trẻ con đôi khi thuộc sử Trung Quốc hơn cả sử Việt, đây là những cảnh báo hết sức nghiêm trọng, không thể bỏ qua.

- Nhưng hiện nay đâu chỉ có văn hóa Trung Hoa mà văn hóa Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ cũng đang hấp dẫn giới trẻ, thưa ông?

PGS. TS PDN: Ảnh hưởng của văn hóa Hàn Quốc và Nhật Bản trong giới trẻ Việt Nam là không thể chối cãi. Điều này có lý do từ sự chủ động khuếch trương văn hóa của các nhà nước Đại Hàn và Nhật Bản. Về điều ngược lại, dường như chính sách văn hóa của Việt Nam mang nặng tính thụ động, chống đỡ, mà chưa vươn tới khuếch tán, hoan nghênh tinh thần Việt ở nước ngoài. Ví dụ, Nhà nước Việt Nam dường như chưa có cố gắng mở các nhà Việt Nam ở nước ngoài, ít có các chính sách cụ thể nhằm khuyến khích xuất khẩu các chương trình văn hóa, phim ảnh và nghệ thuật đặc sắc của tộc Việt ra hải ngoại.

Cuộc gặp gỡ Đông – Tây đã diễn ra quyết liệt ở Việt Nam trong vài thế kỷ qua, song giao thoa văn hóa với phương Tây, được hiểu trước hết là văn hóa Âu – Mỹ vẫn tiếp diễn mạnh mẽ không ngừng. Chủ nghĩa tiêu dùng, tôn thờ tiền bạc, tự do tình dục, tự do cá nhân là những con sóng lớn ngày đêm vỗ trực tiếp vào văn hóa nông dân của người Việt Nam. Dường như chính sách Nhà nước chưa thật sự mạnh trong giới hạn tiêu dùng, khuếch trương tinh thần cộng đồng và thiện nguyện. Điển hình là sự thả lỏng quảng cáo trên tất cả các kênh truyền hình quốc doanh; khuếch trương tiêu dùng có thể nhìn thấy trong sự hỗn độn và lố nhố của rừng biển quảng cáo ở tất cả các đô thị Việt Nam. Đây là một chủ đề rất lớn có thể phải tranh luận thêm.

Pháp luật là một phần của văn hóa

- Trong một bài báo ông đã nhấn mạnh nhu cầu giáo dục sự khoan dung trong xã hội Việt Nam. Vì sao vậy?

PGS. TS PDN: Bởi lẽ, tôi cảm thấy rõ tâm lý của người chiến thắng sau năm 1975, tâm lý tự hào về tính ưu việt của chế độ XHCN đối với các chế độ tư hữu khác, và nhiều điều khác đã làm cho khoan dung trở thành một chủ đề ít được nghiên cứu ở Việt Nam. Có vẻ như sự đa dạng trong cách suy nghĩ, cách nói, sự đa dạng trong cách hành xử, ăn mặc vẫn còn gây ra nhiều sự khó chịu trong tư duy của người quản lý văn hóa.

Trong một xã hội ngày càng đa dạng về văn hóa và sắc tộc, năng lực sống khoan dung trở nên hết sức quan trọng. Khoan dung giúp giữ lấy cái riêng có của dân tộc mình và không dị ứng gay gắt với cái khác lạ của các tộc người hoặc nhóm văn hóa khác.

Đồng thời với khoan dung, nhận định lại về chủ nghĩa cá nhân và động lực phát triển cho toàn xã hội từ khuếch trương tự do cá nhân cũng cần được bàn luận thêm.

- Trước sức ép toàn cầu hóa, ta phải làm gì để tự tin đối thoại, hợp tác, cạnh tranh với các nước trên thế giới thưa ông?

PGS. TS PDN: Văn hóa là một phần to lớn tạo nên sức mạnh mềm, đủ sức chống chọi lại các cuộc xâm lăng, giúp một dân tộc tự tin và lấy lại nghị lực.

Chính sách về văn hóa vì lẽ ấy phải khuếch trương sức mạnh văn hóa của người Việt Nam, tạo dựng niềm tin và các giá trị khác tạo nên vốn xã hội. Các chính sách của Nhà nước phải góp phần tạo dựng niềm tin giữ người dân với chính quyền, từ cấp xã cho tới trung ương, tạo dựng niềm tin trong gia đình, đồng nghiệp, niềm tin giữa chủ và thợ. Thiếu niềm tin, Việt Nam có thể có công nghiệp hóa, song không có chất lượng Việt, không có hàng Việt và sức mạnh Việt.

Trong xây dựng những chính sách ấy, pháp luật có một vai trò đáng kể, giúp thể chế hóa các chính sách thành quy phạm và thiết chế thực thi các quy phạm đó. Pháp luật là một phần của văn hóa, là một phần của thượng tầng kiến trúc theo cách nói của người Đức, song ngược lại, pháp luật cũng là những nền móng hạ tầng giúp xây dựng niềm tin, sự tự tin và ứng xử khoan dung giữa con người trong xã hội đa văn hóa.

- Xin cảm ơn PGS. TS Phạm Duy Nghĩa.

Báo Công Lý

Bản in  


Các tin khác
Dân chủ và dân trí (07/03)
Khắc phục những xung đột và lỗ hổng trong pháp luật (15/02)
Dân chủ hóa hơn nữa quá trình xây dựng, ban hành và thực hiện nghị quyết quan trọng của Nhà nước (28/11)
Xã hội cần những trí thức suy nghĩ độc lập (22/09)
Một số thành tựu cải cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (19/09)
Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (19/09)
Hồ Chí Minh và đường đến nền cộng hòa hợp hiến (10/06)
Phân công, phối hợp và kiểm soát trong thực hiện quyền lập pháp ở Việt Nam (21/05)
Đi tìm nguồn gốc tội ác: Đụng là chém (11/05)
Đi tìm nguồn gốc tội ác: Có chuẩn nhưng... không ra chuẩn (11/05)
Tên (ID):
Mật khẩu:
 
Đăng ký mới
Quên mật khẩu
Hướng dẫn sử dụng
 
  Liên lạc: VnLawFind, ©VPLS nhQuang&Cộng sự - Biệt thự B23, Trung Hòa-Nhân Chính,
đường Nguyễn Thị Định, Thanh Xuân, Hà Nội.
ĐT:84-4-5376939/5376940; Fax: 84-4-5376941; Điều kiện Sử dụng
Chịu trách nhiệm nội dung: LS Nguyễn Hưng Quang
Giấy phép Thành lập Website số 57/GP-BC cấp ngày 4/5/2005
Số lượt truy cập: 1966111, Số người đang truy cập (online): 73